Phan Huy Lê không xứng đáng là người viết sử cho dân tộc Việt Nam

Ngày 19-8-2017, kỷ niệm 72 năm ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày mà cả dân tộc Việt Nam đứng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, là ngày mà toàn thể nhân dân Việt Nam trên mọi miền Tổ Quốc, nam-phụ-lão-ấu đều nhất tề “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, lịch sử Việt Nam đã sang một trang mới, bắt đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Toàn thế giới đã chứng kiến sự ra đời của một nhà nước mới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dân Việt Nam đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình để xây dựng cuộc sống mới. Thời gian đã lùi xa nhưng tầm vóc ý nghĩa thắng lợi, bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng tỏa sáng. Đó là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử của dân tộc ta, một dấu mốc lớn trên con đường phát triển trong suốt chiều dài mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

tu-tru-nen-su-hoc-vn-khong-ke-thua-truyen-thong-sao-viet-tiep-duoc-tuong-lai-3

 

Ấy thế mà trong ngày kỷ niệm trọng đại này, những người đã biên soạn bộ sách “Lịch sử Việt Nam” dài 15 tập mà đứng đầu là PGS. TS. Trần Đức Cường, có sự tham gia của GS. Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc và một số nhà sử học khác đã thông qua tờ báo “Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh” đã “chúc mừng” ngày kỷ niệm trọng đại ấy bằng việc tuyên bố từ bỏ cách gọi chính quyền Sài Gòn do thực dân Pháp (1948 – 1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) là “ngụy quyền”, từ bỏ cách gọi quân đội tay sai của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “ngụy quân”. Mấy nhà sử học này đã biện bạch rằng cái chính quyền ngụy ấy, cái quân đội ngụy ấy đã tồn tại như một thực thể. Nhưng thực thể đó là thực thể gì ? Nó do ai tạo ra ? Mục đích của những kẻ tạo ra những thực thể ấy là gì ? Thực thể ấy vận hành ra sao ? Thực thể đó có đại diện cho quyền lợi của toàn thể dân tộc Việt Nam hay không ?

1

Tập sách lịch sử mới xuất bản của Phan Huy Lê xuyên tạc lịch sử, ca ngợi chính thể Việt Nam Cộng Hòa

Các luận cứ khoa học lịch sử cho đến nay đều cho ta thấy những nhà sử học này đã dùng “chủ nghĩa duy danh: và phép logic hình thức để biện bạch cho hành động sai trái của họ. Ngay sao khi những phát ngôn của ông PGS. TS. Trần Đức Cường được tờ “Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh” đăng lên, từ VOA đến BBC, từ RFA đến “Vietcatholic” và nhiều trang báo điện tử, trang tin tổng hợp chống Nhà nước Viejt Nam ở hải ngoại cũng như một số phần tử chống đối trong nước đều hoan hỷ trước những thông tin này. Chúng hoan hỷ bởi những kẻ phản bộ Tổ Quốc Việt Nam, phản bội Dân tộc Việt Nam từ này đã được rửa mặt, ngõ hầu xóa đi những tội ác tàn bạo nhất, ghê tởm nhất mà chúng đã cùng với những đội quân xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra trên khắp đất nước Việt Nam.

Những người yêu nước Việt Nam chân chính cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm trước thông tin đó. Và họ có lý do để đề nghị lãnh đạo Đảng và Nhà nước hãy yêu cầu phải gọi đích danh những kẻ đã vì quyền lợi cá nhân mà bám gót giặc xâm lược ngoại bang, chống lại ý chí độc lập tự do của dân tộc là NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN. Mọi sự đánh tráo khái niệm đều là vô nghĩa và dáng khinh, nhất là là sự đánh tráo nhân danh khoa học. Đối với những kẻ đã đứng cùng hàng ngũ với những thế lực ngoại bang xâm lược Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu tội ác trời không dung, đất không tha trên đất nước Việt Nam thì không thể có một cách gọi nào khác rằng đó là ngụy quyền, ngụy quân, là chính quyền tay sai của thức dân Pháp và đế quốc Mỹ, là quân đội tay sai của quân đội Pháp và quân đội Mỹ.

Để rộng đường nghiên cứu, tôi xin dẫn ra đây một phần của bài phân tích về nguồn gốc và bản chất của chính quyền ngụy Sài Gòn và quân đội ngụy Sài Gòn do một nhà nghiên cứu lịch sử đứng đắn cung cấp:

“Trong chiến tranh Việt – Pháp (1945-1954) thì năm 1949 thực dân Pháp đã tạo ra “chính phủ Quốc gia” và đưa Bảo Đại lên đứng đầu, nằm trong giải pháp (Da) vàng hóa chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, theo công thức: Viện trợ Mỹ + Quân viễn chinh Pháp + Quân bản xứ.

Pháp dựng lên “Quốc gia Việt Nam” qua cái gọi là “Hiệp định Elysée”. Mặc dù về danh nghĩa là thành lập chính phủ “Quốc gia Việt Nam” nhưng trên thực tế, thực dân Pháp nắm tất cả các quyền về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chính… “Quân đội Quốc gia” xây dựng dần từ năm 1948 từ những con cháu lính khố xanh, khố đỏ của Pháp và triều Nguyễn, bao gồm cả Binh đoàn Bộ binh Bắc Kỳ và lính Lê Dương người Việt. Quân đội của cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” do các sĩ quan Pháp chỉ huy. Quân sự, tài chính, thuế quan, xuất nhập cảnh… và các cơ quan chức năng đều do người Pháp quản lý. Kinh tế, nguồn cung tài chính và ngụy quân đều do Pháp trực tiếp điều hành.

Và trong cái gọi là “hiệp định” độc lập giả hiệu mà Pháp soạn rồi đưa cho Bảo Đại ký hoàn toàn không có quy định rõ ràng, cụ thể nào về nghĩa của hai từ “độc lập” được ghi trên giấy, dù thực dân Pháp tuyên bố đã “trao trả độc lập” cho Việt Nam, rằng quân đội Pháp chỉ “giúp bảo vệ” mà thôi. Quyền hạn cụ thể của cái gọi là “chính phủ Quốc gia” cũng không hề được đề cập trong “hiệp định”. “Hiệp định” này cũng không nói rõ việc thành lập một “nước” mới này có thể ảnh hưởng gì đến cuộc chiến Pháp – Việt khi đó đang diễn ra ác liệt.

Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3-4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời nhiều câu hỏi, trong đó có một câu như sau:

Phóng viên: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về bản hiệp ước ngày 8-3-1049 vừa ký giữa Pháp và Bảo Đại ?

Hồ Chủ tịch: Đối với nhân dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập.

Năm 1954, sau thất bại thảm hại tại Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ký hiệp định Giơ-ne-vơ, rút quân về nước. Mỹ từ một nước đồng minh viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tại Việt Nam đã nhảy vào chính thức thay chân Pháp xâm lược Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu xâm lược của mình, năm 1955, Mỹ chọn “thủ tướng” Ngô Đình Diệm của chính phủ “Quốc gia Việt Nam” tay sai Pháp, đưa lên làm làm “tổng thống”, với tên mới là “Việt Nam Cộng hòa”. Như vậy, “Việt Nam Cộng hòa” tuy là tay sai bù nhìn của Mỹ, phục vụ cho Mỹ, nhưng đầu tiên do thực dân Pháp dựng lên năm 1949 trong lúc họ đang xâm lược Việt Nam nhằm chiếm lại thuộc địa. Do đó, muốn đánh giá xem “Việt Nam Cộng hòa” là gì, có bản chất như thế nào, thì cần xem “Quốc gia Việt Nam” là cái gì.

Bảo Đại là kẻ đứng đầu “Quốc gia Việt Nam”. Và chúng ta hãy đọc xem Bác Hồ nói gì về Bảo Đại và cộng sự trong lúc nhân vật này đang đứng đầu cái gọi “Quốc gia Việt Nam” thuộc Liên hiệp Pháp. Lưu ý đây là Bác trả lời không phải với tư cách cá nhân, mà là với tư cách một nhà chính trị, với tư cách là một vị chủ tịch, một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia, nghĩa là đã thận trọng nhất, đã cân nhắc nhất và mang tính chính thức. Trích bản ghi điện trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tờ Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3-4-1949:

Phóng viên: Chính phủ Pháp nói Bảo Đại sẽ đưa lại hoà bình ở Việt Nam. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về điều đó.

Hồ Chủ tịch: Vĩnh Thụy trở về với 100.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thuỵ cam tâm bán nước, đó là sự thực. Âm mưu của thực dân Pháp là đặt lại chế độ nô lệ ở Việt Nam. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc. Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và thống nhất thật sự.

Nggày 13-10-1949, Hồ Chủ tịch trả lời phỏng vấn của A.Steele, phóng viên báo Mỹ New York Herald Tribune (Diễn đàn dự báo New Yorrk) như sau:

Phóng viên: Chủ tịch đối với ông Bảo Đại thế nào?

Hồ Chủ tịch: Về phương diện tư nhân, tôi với ông Vĩnh Thụy không có thù hiềm gì hết. Nhưng về phương diện dân tộc, Vĩnh Thụy là một người có tội phản quốc.

Phóng viên: Có thể có một cách giải quyết nào có Bảo Đại tham dự không?

Hồ Chủ tịch: Chúng tôi không cần gì đến bọn bù nhìn.

Phóng viên: Những phần tử nào ủng hộ Bảo Đại?

Hồ Chủ tịch: Bọn bù nhìn và bọn phản quốc.

Ngày 28-2-1949, Hồ Chủ tịch trả lời phỏng vấn của báo Pháp France Soir (Nước Pháp buổi chiều):

Phóng viên: Theo ý Chủ tịch, giữa Chính phủ của Chủ tịch với Bảo Đại có thể có thoả ước hay không?

Hồ Chủ tịch: Trong một nước, làm gì có thoả ước giữa một tư nhân công dân với Chính phủ do toàn dân cử ra.

Từ đó, chúng ta có thể thấy, về bản chất của cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” và cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” không có gì khác nhau ngoài tên gọi và vài người đứng đầu. Và người đứng đầu đó cũng chính là “thủ tướng” của chính quyền tay sai Pháp. Vẫn lá cờ ba sọc với bài “quốc ca” “vay mượn”.

 

Cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” là nơi hội tụ của những tên tay sai tàn ác nhất, và đã phục vụ cho giặc Pháp nhiều đời. Con cháu của bọn lính khố xanh, khố đỏ của Pháp. Cha của Ngô Đình Diệm chính là quan thượng thư Ngô Đình Khả, kẻ làm việc dưới trướng Việt gian Nguyễn Thân, một tên tay sai đắc lực và tàn ác của thực dân Pháp. Ngô Đình Khả đi theo Nguyễn Thân đàn áp nghĩa quân rất tàn ác, vô nhân đạo, nhất là trong cuộc đàn áp nghĩa quân Hương Khê do các cụ Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả đã cho đào mộ cụ Phan lên rồi đốt thi thể, trộn tro với thuốc súng cho nổ để hả giận rồi thả trôi sông. Tội ác dã man đó còn là để đe dọa, khủng bố tinh thần nghĩa quân và nhân dân.

Ngô Đình Diệm đã có quãng thời gian 12 năm làm quan cho Pháp (1921-1933), dưới 2 đời ngụy triều Khải Định và Bảo Đại thời Pháp thuộc. Đến năm 1933, do bất mãn với Pháp và Bảo Đại, bị lạnh nhạt, không tin dung. Gia tộc họ Ngô Đình phục vụ nhiều đời cho Pháp và triều đình, bản thân phục vụ 12 năm, vậy mà chỉ được phong làm Thượng thư Bộ Lại. Trong khi quan thượng thư đứng đầu nội các không phải là Ngô Đình Diệm mà là Thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục Phạm Quỳnh. Vì vậy, Ngô Đình Diệm bất mãn từ quan. Mâu thuẫn giữa Diệm với Pháp và Bảo Đại bắt nguồn từ đó. Ngô Đình Diệm thất chí, bất mãn từ chức và từ đó chuyển sang hướng chống đối người Pháp và triều đình. Nhưng rồi về sau lại làm “thủ tướng” cho Pháp và ngụy triều Bảo Đại trong chiến tranh Việt – Pháp (1945-1954).

Từ năm 1954, Ngô Đình Diệm công khai theo đuôi người Mỹ. Sự đổi chủ liên tục này cho thấy rằng chắc chắn gia tộc họ Ngô Đình đã không muốn đặt lợi ích gia tộc và tôn giáo (Công giáo) dưới lợi ích của các ông chủ. Họ là tay sai, nhưng không phải là những tay sai quá trung thành, ngoan ngoãn, dễ bảo như Bảo Đại hay Nguyễn Văn Thiệu. Đó là một phần nguyên cớ sau này người Mỹ giật dây đảo chính để sát hại hai an hem họ Ngô Đình, thay đổi tay sai như thay ngựa giữa dòng.

Ngụy quyền Sài Gòn còn là bọn tay sai tàn ác, gây rất nhiều tội ác với nhân dân, chứ không phải là ngụy quyền bù nhìn kiểu ngây ngô chính trị, bị lợi dụng nhưng không gây tội ác, như “Đế quốc Việt Nam” (chính quyền Trần Trọng Kim). Như vậy chính quyền Sài Gòn là một ngụy quyền, quân đội Sài Gòn là ngụy quân, là những kẻ do Pháp dựng lên và sau đó được Mỹ nuôi tiếp. Còn cơ cấu nhân sự, hệ thống của nó thì không có nhiều thay đổi. Nó là tay sai của Pháp, do bọn thực dân đô hộ Việt Nam trăm năm dựng lên. Như vậy, tay sai của Mỹ cũng chính là tay sai cũ của Pháp. Nói chung, ngụy quyền Sài Gòn do quân xâm lược chế tạo ra để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của họ. Và ngụy quyền cờ ba sọc chính là như vậy. Bọn họ do Pháp dựng lên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong cuộc chiến giữa Việt Nam và Pháp.

Trong bản Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, tại Điều 7 còn ghi rõ: “Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.” Như vậy, ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn về bản chất còn là một nhóm phản quốc có tổ chức, vi phạm Hiến pháp Việt Nam 1959 về tội phản bội Tổ quốc. Theo luật này thì những thành phần này đã phạm tội chống Nhà nước, một Nhà nước Việt Nam do bầu cử toàn quốc mà có. Họ theo giặc xâm lược, chống lại sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

Họ phạm tội phản quốc còn là vì họ đã phục vụ cho quân xâm lược Pháp và Mỹ, chống lại quê hương đất nước, giết hại tàn sát đồng bào hoạt động chống xâm lược, chống sự nghiệp độc lập và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nếu 2 ông chủ của các ngụy quyền trong vùng tạm chiếm của miền Nam Việt Nam là ai đó tầm thường mà không phải là siêu cường giàu mạnh như Pháp và Mỹ, vận động, thúc ép, áp lực, thỏa hiệp cho các đồng minh và đàn em công nhận và thiết lập ngoại giao với “quốc gia” này thì cái “quốc gia” này sẽ không được báo chí truyền thông cánh hữu gọi ưu ái là “Nam Việt Nam”, mà sẽ gọi họ theo đúng định nghĩa thông dụng trong thế kỷ XXI: Đó là một TỔ CHỨC KHỦNG BỐ. Còn theo đạo lý và pháp lý Việt Nam, theo đạo lý dân tộc và luật pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đây là những tổ chức phản động “tư nhân”, tổ chức phản quốc, bán nước, tay sai bù nhìn của giặc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức trả lời nhiều lần với nhiều báo chí trong và ngoài nước. Tổ chức đó nằm ngoài vòng pháp luật của Việt Nam mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể hợp hiến, hợp pháp duy nhất được nhân dân Viejt Nam bầu lên bằng các cuộc Tổng tuyển cử 1946, 1960, 1964, 1971 và 1975 (trong hai giai đoạn kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ).

Trong cả hai cuộc kháng chiến ấy, khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muốn trao đổi, bày tỏ phản đối, muốn giải quyết vấn đề gì, muốn đề xuất việc gì thì tìm đến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những thế lực có thực quyền để nói chuyện mà không bao giờ trao đổi, đàm phán với những kẻ bán nước cầu vinh. Trong Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ đàm phán với Mỹ và chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với bên bù nhìn của Mỹ. Trong Hội nghị Genève năm 1954 cũng vậy. Hiệp định đình chiến Genève được ký ngày 20-7-1954 giữa đại diện quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện quân đội Pháp. Trrong tuyên bố chung của Hội nghị cũng không hề có chữ ký của dại diện cái gọi là Quốc gia Việt Nam. Cũng trong Hội nghị Paris về Việt Nam, việc chấp nhận cho Nguyễn Văn Thiệu tham gia tranh cử để thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần ở miền Nam cùng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (lực lượng thứ ba) là một sự nhượng bộ lớn về pháp lý và đạo lý chỉ vì đại cuộc.

Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký tắt giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ngày 23-1-1973 rồi mới ký 4 bên ngày 27-1-1973. Gọi là ký tắt nhưng đó là sự thỏa thuận giữ hai bên tham chiến chủ yếu. Vậy thì ngay cả Hiệp định Paris 1973 cũng chỉ coi chính quyền Sài Gòn như là một thành phần chính trị gần ngang bằng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, như một phe phái được phép tham gia tranh cử với các lực lượng chính trị khác.

Tuy nhiên, sau đó Mỹ-Thiệu đã đơn phương xua quân tấn công những vùng giải phóng và vi phạm gần như tất cả điều khoản trong Hiệp định Paris 1973. Vậy thì quyền tranh cử hợp pháp của Nguyễn Văn Thiệu cũng không còn nữa. Dù chỉ một chút tư cách pháp nhân thì danh nghĩa chính trị của tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu và ngụy quyền Sài Gòn theo Hiệp định Paris 1973 cũng đã không còn hiệu lực. Mỹ sau khi đã thành công đưa đại quân khỏi Việt Nam một cách an toàn thì đã cùng Thiệu đơn phương bác bỏ việc tổ chức bầu cử theo hiệp định Paris 1973, và kể từ lúc đó ngụy quyền Sài Gòn càng phơi bày rõ hơn bản chất là một cánh tay nối dài của giặc xâm lược và không còn được coi là gần ngang hàng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Chính vì vậy, trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, ngụy quyền Sài Gòn loay hoay có đến 3 “tổng thống” để xin được thương lượng với Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhưng đã bị bác bỏ. Bởi trước đó, ngụy quyền Sài Gòn đã từ chối thương lượng, tranh cử công bằng với Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris 1973 mà Mỹ và họ đã ký vào. Họ đã vi phạm đến mức gàn như xé bỏ Hiệp định này nên bây giờ họ không còn tư cách đối thoại, không còn tư cách pháp nhân. Và Hiệp định Paris 1973 đã bị ngụy quan Sài Gòn và ngụy quyền Sài Gòn vô hiệu hóa tới mức không còn hiệu lực thi hành, không còn giá trị thực tế nữa.

Ngụy quyền này do thực dân Pháp dựng lên ngay giữa một cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong lúc đã tồn tại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do dân bầu ra. Ngụy quyền ấy không thể tự nuôi thân. Quân xâm lược buông ra là chết. Do đó nó là bất hợp pháp, không chính danh. Và chính vì vậy, nó bị gọi là “ngụy” (giả) để phân biệt với các quốc gia, nhà nước, chính thể chân chính, chính danh, hợp pháp.

 

Những cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” là “ngụy” vì ở miền Nam Việt Nam trên thực tế không có quốc gia nào cả chỉ là một vùng địa lý bao gồm vùng giải phóng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam và các căn cứ quân sự lớn, các khu vực thuộc địa kiểu mới của Mỹ trong vùng tạm chiếm, là nơi sinh hoạt của khoảng 6 triệu người Mỹ cùng hơn 60 vạn quân Mỹ và chư hầu của Mỹ. Nhưng họ lại mạo xưng đó là một “quốc gia”. Mặc dù Mỹ vận động, kêu gọi, mua chuộc, gây áp lực với các đồng minh, các chư hầu để họ công nhận và thiết lập ngọai giao với bọn ngụy này, nhưng dư luận quốc tế, các trí thức quốc tế đã nhận thức rõ đây chỉ là một “nhà nước hư cấu” (fictive state).

Tiến sĩ James Carter, Giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ), trong cuốn sách “Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968” (Quá trình sản sinh ra Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng nhà nước, 1954-1968), do NXB Đại học Cambridge (Anh) xuất bản năm 2008, đã ghi rõ như sau:

“Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ.” và “Từ trước đó, giới chức đã thôi nói về xây dựng quốc gia, cải cách điền địa, dân chủ, minh bạch. Thay vào đó, họ bàn về một cuộc chiến phải thắng trước những kẻ thù của nhà nước hư cấu “Nam Việt Nam” (Fictive State). Quỹ đạo này của chính sách Mỹ khiến người ta gần như không thể nói thật về những thành công, thất bại, đặc biệt là với các nhà hoạch định chính sách. Chưa bao giờ Mỹ đạt tới điểm bức ngoạt mà ở điểm đó, chính thể Sài Gòn có thể tự mình tồn tại mà không nhờ vào viện trợ Mỹ”

Như vậy cái gọi là “quốc gia” này không phải là một quốc gia đúng nghĩa, chưa bao giờ hội đủ các đặc điểm, thực lực, giá trị, căn cước của một quốc gia thật sự, của một nước có đầy đủ chủ quyền, có đủ thực quyền độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa.

Vậy thì “quốc gia” đó là “đồ giả”. Mà “giả” thì có thể gọi một cách văn vẻ là “ngụy”. Vì vậy, cách gọi bọn họ là “ngụy” chính là một cách gọi trung thực, trung lập, khách quan, và chính xác nhất, không còn từ nào khác mô tả chuẩn hơn, đúng hơn. Không còn từ nào khác trong tiếng Việt mà mô tả cô đọng đầy đủ hơn, đúng nghĩa hơn bản chất của đối tượng đó.

Cả dân gian và giới nghiên cứu học thuật gọi ngụy quyền là “ngụy” là xuất phát từ tinh thần tôn trọng sự thật, tôn trọng thực tế lịch sử khách quan, chứ không hẳn là vì ghét họ nên gọi họ là “ngụy” cho hả giận. Đã là một “Nhà nước hư cấu” (Fictive State), thì làm sao có thể gọi là một “quốc gia” ? Thế nhưng họ mạo xưng như vậy thì đích thị là đồ giả (ngụy) theo pháp lý Việt Nam, cũng như trong lòng dân và đạo lý dân tộc Việt Nam.” (Hết trích dẫn)

Hỡi các nhà sử học tham gia biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” (tái bản) vừa qua là những người đã ủng hộ, dung túng và làm ngơ trước việc thay đổi cách gọi những kẻ đã bán nước cầu vinh, những “chính quyền hư cấu” do ngoại bang dựng lên để làm công cụ chống lại nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam: CÁC ÔNG KHÔNG CÒN XỨNG ĐÁNG LÀ NHỮNG NGƯỜI VIẾT SỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM NỮA.. Hãy để những nhà sử học đích thực là người trung thực, có đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, không chịu uốn cong ngòi bút, có tinh thần yêu nước chứ không yêu tiền làm việc đó.

Tâm Minh Nguyễn 

 

Bình luận trên facebook

Bình luận trên VNTB

..

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tin được quan tâm

    THỐNG KÊ TRUY CẬP

    Flag Counter